Hội quán ở Chợ Lớn phần lớn dựng theo một trục dọc: cổng, tiền điện, rồi các gian sâu dần vào chính điện, nối với nhau bằng những khoảng sân lộ thiên gọi là giếng trời; nhìn từ trên xuống, mặt bằng giống chữ khẩu (口) hay chữ quốc (國). Mái lợp ngói ống, nhiều nơi men xanh, bờ nóc gắn tượng gốm men màu; cột gỗ hoặc cột đá chạm rồng; trước cửa có sư tử đá, sau cổng có bình phong. Chi tiết nào cũng vừa có việc để làm, vừa có ý nghĩa.
Người đi Chợ Lớn lần đầu hay chỉ thấy "đẹp, nhiều màu". Bài này giúp nhìn kỹ hơn: đi từ cổng vào, đọc từng bộ phận, hiểu vì sao người xưa làm vậy, và phân biệt phần nào là gốc, phần nào là trùng tu sau. Đọc xong, ghé hội quán nào cũng sẽ thấy nhiều thứ hơn hẳn.
Bố cục chữ khẩu: vì sao hội quán sâu mà không tối?
Đất ở Chợ Lớn đắt và hẹp mặt tiền, nên hội quán phát triển theo chiều sâu. Từ cổng đi vào là tiền điện, nơi đón khách và có lư hương lớn; tiếp đến là các gian giữa, cuối cùng là chính điện thờ vị thần chính. Hai bên là dãy hành lang hoặc dãy phòng chạy dọc, dùng làm văn phòng, kho, gian khách.
Nếu chỉ xây kín thì bên trong sẽ tối và ngột khói nhang. Lời giải là giếng trời: những khoảng sân lộ thiên nằm giữa các gian. Ánh sáng rọi xuống, khói nhang bốc lên thoát ra, nước mưa đổ vào sân rồi theo rãnh thoát đi. Đứng giữa giếng trời vào buổi trưa sẽ thấy cả hội quán sáng lên.
Các gian và dãy bên bao quanh giếng trời tạo thành mặt bằng như chữ khẩu (một sân ở giữa) hoặc chữ quốc (có thêm khối ở giữa). Các nhà nghiên cứu hay dùng hai chữ này để mô tả; không phải hội quán nào cũng khớp đúng hình, vì qua nhiều lần mở rộng, sửa chữa.
Nền các gian thường cao dần từ ngoài vào trong, chính điện cao nhất. Bước qua mỗi ngạch cửa là bước lên một bậc, như đi từ chỗ đời thường vào chỗ linh thiêng. Người đi lễ lâu năm không bao giờ đứng lên ngạch cửa, mà bước qua.
Mái và bờ nóc: sân khấu gốm trên nóc nhà
Ngói ống, ngói âm dương. Lớp ngói ngửa và ngói úp đan nhau, thoát nước mưa nhanh; nhiều hội quán dùng ngói men xanh, có nơi men vàng.
Bờ nóc gắn tượng gốm. Hàng tượng gốm men màu dựng cả cảnh: lầu các, người, ngựa, tích truyện; xa nhìn như sân khấu tuồng trên mái.
Gốm từ đâu? Một phần gốm mái các hội quán Quảng Đông được cho là đặt từ vùng Thạch Loan (Phật Sơn), một phần từ các lò gốm Sài Gòn xưa như lò Cây Mai; muốn biết món nào từ đâu thì xem dấu lò, hỏi ban quản trị.
Lưỡng long tranh châu. Hai con rồng chầu một viên ngọc giữa nóc là đề tài quen thuộc, tượng trưng cho điều lành.
Đầu đao cong vút. Bốn góc mái uốn cong lên, làm mái nhẹ đi về thị giác và gắn thêm con vật trang trí.
Mái lớp lớp. Các gian có mái cao thấp khác nhau, chính điện cao nhất; đứng chếch một góc nhìn sẽ thấy các lớp mái xếp tầng.
Tượng gốm hay hư nhất. Nắng mưa làm men bong, tượng gãy; nhiều tượng hiện nay là tượng làm lại khi trùng tu.
Ngắm từ đâu đẹp nhất? Từ vỉa hè đối diện, buổi sáng nắng chiếu mặt tiền; mang ống kính tele hoặc ống nhòm nhỏ để nhìn chi tiết.
Cột, kèo và gỗ chạm: phần khung chịu lực cũng là phần trang trí
Cột gỗ lớn sơn son. Cột gỗ tròn, sơn đỏ, đứng trên chân tảng đá để tránh ẩm từ nền.
Cột đá chạm rồng. Một số hội quán, như Hà Chương, có cột đá rồng cuốn ở gian trước, vừa chịu lực vừa làm điểm nhấn.
Hệ kèo nhiều tầng chạm trổ. Các thanh gỗ đỡ mái xếp chồng, đầu thanh chạm hình mây, hoa, thú; nhìn lên trần là thấy cả một rừng chạm khắc.
Đấu củng. Những khối gỗ nhỏ xếp như bậc thang đỡ mái hiên, vừa phân lực vừa làm đẹp.
Cửa võng, khám thờ thếp vàng. Phía trước bàn thờ chính có bao lam gỗ chạm thủng, thếp vàng, tạo khung cho tượng thần.
Hoành phi, câu đối. Tấm biển ngang và các cặp câu đối treo cột; nhiều tấm ghi năm, tên người dâng, là tư liệu quý.
Gỗ chạm hư vì mối và ẩm. Đây là phần khó giữ nhất; thấy giàn giáo, vải che trong hội quán thường là đang xử lý gỗ.
Không chạm tay vào gỗ thếp. Lớp vàng thếp rất mỏng, mồ hôi và dầu da tay làm xỉn, bong.
Bảng nhìn nhanh: bộ phận, công dụng, ý nghĩa
Mang bảng này theo khi đi, đứng ở đâu nhìn thấy gì thì đối chiếu.
| Bộ phận | Làm việc gì | Ý nghĩa thường được giải thích |
|---|---|---|
| Sư tử đá ở cổng | Đánh dấu lối vào | Trấn giữ, xua điều xấu; con vờn cầu và con giữ con nhỏ thành một cặp |
| Bình phong sau cổng | Che tầm nhìn thẳng vào trong | Chặn tà khí, theo quan niệm "điều xấu đi thẳng" |
| Ngạch cửa cao | Chắn gió, nước, bụi | Ranh giới giữa ngoài và trong; bước qua, không đứng lên |
| Cửa giữa và hai cửa bên | Chia luồng đi | Cửa giữa dành cho thần, người đi hai cửa bên |
| Giếng trời | Lấy sáng, thoát khói, đón nước mưa | Nối trời và đất trong lòng công trình |
| Lư hương lớn ngoài sân | Nơi thắp nhang đầu tiên | Khấn trời đất trước khi vào gặp thần |
| Tượng gốm bờ nóc | Che mối nối mái, trang trí | Kể tích truyện, cầu may |
| Cột đá, cột gỗ chạm | Chịu lực | Rồng, mây: quyền uy, mưa thuận gió hoà |
Đọc lớp trùng tu: phần nào cũ, phần nào mới?
Hội quán nào ở Chợ Lớn cũng đã qua nhiều lần trùng tu. Vì thế đứng trong một gian, có khi đang nhìn cùng lúc gỗ hơn trăm năm và sơn mới vài năm. Biết đọc lớp trùng tu giúp mình không ngạc nhiên khi thấy cái gì cũng "mới tinh", và biết nhìn đâu để thấy phần cổ.
Gỗ chạm cũ thường có lớp sơn thếp mờ, đường chạm mềm do mòn, khe chạm đen vì khói nhang lâu năm. Gỗ chạm mới đường nét sắc, màu vàng tươi. Tượng gốm cũ men có vết rạn, màu trầm; tượng làm lại men bóng, màu tươi.
Bia đá và hoành phi thường ghi năm trùng tu bằng chữ Hán, nhiều tấm dùng niên hiệu và can chi. Đây là nguồn đáng tin nhất để biết một hội quán đã sửa những lần nào. Đọc được hay không thì tuỳ, nhưng chụp lại (không flash) rồi nhờ người biết chữ Hán đọc là một cách học rất hay.
Có người tiếc rằng trùng tu làm mất vẻ cũ. Nhưng hội quán là nơi đang thờ tự, không phải bảo tàng; người trong bang muốn nơi thờ thần của mình sáng sủa, chắc chắn. Việc trùng tu di tích có quy định riêng và do cơ quan quản lý di tích cùng ban quản trị quyết định; người tham quan nên tôn trọng.
Những sai lầm hay gặp khi ngắm kiến trúc hội quán
Chỉ nhìn ngang tầm mắt. Cái hay nhất nằm trên trần, trên kèo, trên bờ nóc; nhớ ngẩng lên.
Đứng ngay dưới cổng mà ngắm mái. Gần quá thì không thấy gì; ra vỉa hè đối diện mới thấy hết bờ nóc.
Trèo lên bệ, lan can để chụp. Vừa nguy hiểm vừa bất kính; đứng dưới đất, dùng ống kính.
Gõ thử cột, sờ tượng gốm. Tượng gốm trên thấp và đồ đá cũng dễ sứt; nhìn bằng mắt là đủ.
Đi giữa lúc đông lễ. Rằm, mùng một, ngày vía không hợp để ngắm; chọn ngày thường, buổi sáng.
Tin mọi tấm ảnh "trước – sau" trên mạng. Nhiều ảnh ghép sai hội quán, sai năm; đối chiếu với bia ký tại chỗ.
Kết luận "kiến trúc Trung Hoa" rồi thôi. Hội quán Chợ Lớn pha thợ Quảng, thợ Phúc Kiến, thợ Triều, cả thợ Việt và vật liệu địa phương; đó là cái riêng của Chợ Lớn.
Câu hỏi thường gặp
Giếng trời trong hội quán dùng để làm gì?
Giếng trời là khoảng sân lộ thiên giữa các gian, dùng lấy sáng, thoát khói nhang và đón nước mưa. Nhờ nó mà hội quán sâu vẫn sáng và thoáng.
Tượng gốm trên mái hội quán làm từ đâu?
Nhiều tài liệu cho rằng một phần gốm mái được đặt từ vùng Thạch Loan (Phật Sơn, Quảng Đông), một phần từ các lò gốm Sài Gòn như Cây Mai. Món cụ thể từ đâu cần xem dấu lò hoặc hỏi ban quản trị.
Vì sao không được đứng lên ngạch cửa?
Ngạch cửa được coi là ranh giới giữa bên ngoài và nơi thờ tự, đứng lên là thiếu kính trọng. Bước qua ngạch cũng là nếp chung ở đình, chùa, miếu của nhiều cộng đồng.
Bố cục chữ khẩu, chữ quốc là gì?
Đó là cách mô tả mặt bằng hội quán nhìn từ trên xuống: các gian và dãy bên bao quanh sân trong như chữ khẩu (口), hoặc có thêm khối giữa như chữ quốc (國). Không phải hội quán nào cũng khớp đúng hình.
Làm sao biết phần nào của hội quán là cũ?
Gỗ chạm cũ thường mờ sơn, đường chạm mòn, khe đen vì khói; tượng gốm cũ có men rạn. Bia đá và hoành phi ghi năm trùng tu là nguồn đáng tin nhất.
Có được chụp ảnh kiến trúc trong hội quán không?
Thường được chụp khung cảnh và kiến trúc trong giờ mở cửa. Không dùng flash vào tượng thờ, không trèo lên bệ và làm theo biển nhắc nếu có.